Thị trường cà phê trên thế giới luôn có nhiều sự thay đổi, biến động. Vì sao lại có những sự kiện như vậy? Cùng Mayaca tìm hiểu về biến động chu kỳ của thị trường cà phê qua bài viết này.

Chu kỳ thị trường cà phê

Sự biến động theo chu kỳ của thị trường cà phê có thể được bắt nguồn từ một trong hai đặc điểm chính của sản xuất cà phê.

Đầu tiên, nguồn cung cà phê có thể thay đổi đáng kể theo thời gian. Do các sự kiện không lường trước (thiên tai, dịch bệnh hoặc chiến tranh).

Thứ hai, sự chậm trễ vài năm giữa thời điểm trồng và vụ thu hoạch đầu tiên. Gây khó khăn cho việc cung ứng nhu cầu. Sự kết hợp của hai yếu tố này dẫn đến nguồn cung khi vượt quá nhu cầu sẽ khiến khiến giá giảm mạnh.

chu-ky-thi-truong-ca-phe

Tại nhiều thời điểm quan trọng trong lịch sử, giá cà phê và nguồn cung đã phải chịu ảnh hưởng đáng kể. Do điều kiện thời tiết, dịch bệnh và sự bất ổn xã hội. Vào những thời điểm khác, giá giảm và sự bất bình đẳng xã hội. Điều này dẫn đến những cuộc nổi loạn.

Trong 500 năm qua, sự biến động trong nguồn cung cũng liên quan đến trạng thái không cân xứng của một vài quốc gia sản xuất chính thức. Bắt đầu với Yemen, sau đó là Java.  Trước khi đến Santo Domingo (Haiti) và hiện tại là Brazil. Khi vụ thu hoạch của các đối trọng này thất bại, giá cả thị trường toàn cầu đã tăng lên. Ngược lại, khi các nhà dẫn đầu này được mùa, giá thị trường toàn cầu đã giảm.

Sự khốn khổ của người trồng và cuộc nổi loạn Haiti

Vào giữa thế kỷ XVIII, Santo Domingo (thuộc địa của Pháp trên đảo thuộc vùng Caribbean) trở thành nhà sản xuất cà phê hàng đầu thế giới. Java (Indonesia) và Ceylon (hay Sri Lanka – đất nước ở Nam Á) đã nổi lên trong cuối thế kỷ XVII. Tiếp tục sản xuất một lượng cà phê quan trọng nhưng ít hơn St. Domingo.

Đặc biệt, Pháp phụ thuộc vào cà phê St. Domingo. Được sản xuất bởi những người nô lệ trên các điền trang lớn. Có khoảng 500.000 người nô lệ người. Họ bị chịu đựng một số luật lệ hà khắc nhất từng được tạo ra bởi một cường quốc thực dân. Tin tức về Cách mạng Pháp đã giúp châm ngòi cho hy vọng và truyền cảm hứng cho cuộc nổi dậy tại đây.

su-khon-kho-cua-nguoi-trong-va-cuoc-noi-loan-haiti

Năm 1791, toàn bộ nô lệ nổi dậy và bắt đầu một phong trào giải phóng dân tộc. Cuộc xung đột tàn phá đất đai, sản xuất cà phê tại St. Domingo sụp đổ. Giá cà phê tăng, khuyến khích đầu tư vào cà phê ở phần còn lại của vùng Caribbean. Từ đó, Brazil thiết lập một cơ chế để trở thành nhà sản xuất cà phê lớn nhất thế giới.

Đến năm 1803, những người nô lệ đã giành được tự do. Ngày 1 tháng 1 năm 1804, Haiti trở thành quốc gia thuộc địa đầu tiên ở Mỹ Latinh giành được độc lập. Đây cũng là quốc gia duy nhất trên thế giới giành được tự do.

Sự tàn phá của bệnh gỉ sắt

Java được coi là nhà sản xuất cà phê lớn thứ hai thế giới trong suốt thế kỷ XIX, cùng với Ceylon, Indonesia. Đã trở thành nguồn cung cấp cà phê quan trọng cho châu Âu.

Cho đến năm 1876, một loại nấm gây bệnh gỉ sắt cà phê (Hemileia vastatrix) lan rộng khắp Đông Nam Á. Tàn phá hầu hết các đồn điền cà phê tại đây. Sự sụp đổ của sản xuất cà phê đã làm suy yếu các nền kinh tế của khu vực. Bên canh đó còn làm rung chuyển chính quyền thuộc địa.

su-tan-pha-cua-benh-gi-sat

Tại Java, chính phủ Hà Lan đã áp đặt các luật lệ sản xuất cà phê bắt buộc trước sự do dự vì giá thấp và rủi ro do bệnh gỉ sắt của người trồng. Tuy nhiên, các hộ sản xuất nhỏ ở Đông Nam Á đã thử nghiệm các giống cà phê kháng bệnh và dần khôi phục sản xuất cà phê trong các hệ thống nông lâm kết hợp.

Giá cà phê và bất công xã hội ở Trung Mỹ

Vào thế kỷ XIX, cà phê Trung Mỹ nổi lên như một mặt hàng có giá trị ở thị trường châu Âu. Nguyên nhân là do hương vị tinh tế, và thu hút các nhà đầu tư tìm kiếm lợi nhuận. Các nhà sản xuất cà phê lớn tại El Salvador, Guatemala và Nicaragua đã trở thành các chính trị gia hàng đầu. Họ ủng hộ những điều luật có lợi cho mình.

gia-ca-phe-va-bat-cong-xa-hoi-o-trung-my

Ở mỗi quốc gia, việc thực hiện các chính sách tự do và luật pháp liên quan. Cho phép các nhà sản xuất cà phê lớn chiếm đất của người dân bản địa. Ép người lao động trên các đồn điền cà phê, đường và bông.

Trong quá trình đó, các nền văn hóa và truyền thống bản địa đã bị hủy hoại. Sự bất bình đẳng xã hội sâu sắc đã nuôi dưỡng các cuộc kháng chiến non trẻ giữa người dân bản địa và người nghèo ở nông thôn. Điều này cuối cùng đã thúc đẩy các cuộc nội chiến ở Trung Mỹ trong những năm 1970 và 1980. Ở El Salvador, giá cà phê giảm trong những năm 1930 trùng với hoạt động chính trị – chiến tranh.

Chu kỳ thị trường và cà phê Brazil

Vào cuối những năm 1800, cà phê Brazil chiếm 2/3 (hoặc hơn) sản lượng cà phê toàn cầu mỗi năm. Sự tăng trưởng trong nguồn cung cà phê toàn cầu. Dẫn đầu là Brazil, khiến giá cà phê giảm 40% trong khoảng thời gian từ 1875 đến 1886. Tại Hoa Kỳ, tiêu thụ cà phê tăng 2.400 phần trăm trong khoảng từ 1783 đến 1883. Phản ánh sự gia tăng dân số cũng như sự phổ biến ngày càng tăng của cà phê.

chu-ky-thi-truong-va-ca-phe-brazil

Mặc dù vậy, nhu cầu về tiêu thụ vẫn không tăng nhanh. Giá thấp đã đe dọa đến nền kinh tế của nhiều nước sản xuất. Nhiều nhà sản xuất cà phê đã đặt kỳ vọng về việc sương muối tại Brazil. Chúng sẽ làm hỏng vụ thu hoạch và khiến giá cả tăng lên. Năm 1887, một đợt sương giá đã thực sự tấn công Brazil. Điều này khiến giá cả tăng cao. Nhưng các đồn điền đã hồi phục vào cuối thế kỷ và giá cả sụp đổ một cách nghiêm trọng hơn.

Brazil trong công cuộc bình ổn

Sự hiện diện chiếm ưu thế của Brazil trên thị trường cà phê toàn cầu, buộc họ phải thực hiện các bước đi để bảo vệ các nhà sản xuất. Bao gồm việc tuân theo chính sách xuất khẩu lượng cà phê mà thị trường toàn cầu. Có thể hấp thụ sau khi phần còn lại của sản xuất thế giới đã được tính đến. Chiến lược này đã giúp duy trì giá. Nhưng cũng khuyến khích các nước khác mở rộng sản xuất.

chu-ky-thi-truong-va-ca-phe-brazil-1

Thị phần cà phê Brazil giảm dần khi sản lượng toàn cầu tăng. Trong những năm 1920, nguồn cung cà phê vượt quá nhu cầu. Chính phủ Brazil, lo lắng tăng giá, xử lý hàng tấn cà phê dư thừa bằng cách đốt nó hoặc đổ xuống đại dương.

Từ năm 1906 đến cuối những năm 1930, Brazil đã sản xuất phần lớn cà phê thế giới. Thể hiện tính hiệu quả của các chính sách bình ổn giá. Nó buộc các công ty thương mại ký thỏa thuận hợp tác. Dự trữ sản xuất dư thừa và khối lượng xuất khẩu được kiểm soát. Thậm chí với chi phí phá hủy sản xuất dư thừa. Bằng những chính sách này, Brazil đã giành quyền lực từ các công ty môi giới kiểm soát xuất khẩu. Trở thành công ty hàng đầu trong việc định hình thị trường cà phê quốc tế.

Độ trễ của chu kỳ cà phê

Chu kỳ cà phê đã đặt ra một thách thức không ngừng cho sự phát triển kinh tế của các nước sản xuất. Mặc dù bối cảnh cung cấp cà phê và biến động giá cả đã thay đổi. Khi cà phê mở rộng địa lý và sản xuất toàn cầu đã tăng lên, nguồn cung giảm mạnh có khả năng ảnh hưởng hơn. Nhưng rủi ro của sản xuất thừa đã tăng lên. Nhiều quốc gia đã đưa ra các sáng kiến ​​chính sách. Nhằm để quản lý sản xuất cà phê và giảm thiểu biến động thị trường. Theo một số nghiên cứu, các khía cạnh chính trị cũng ảnh hưởng đến chu kỳ sản xuất cà phê.

do-tre-cua-chu-ky-ca-phe

Brazil đã cố gắng cải thiện giá trị biến đổi hoàn thiện. Bằng cách lưu trữ sản xuất dư thừa và giữ bí mật sản phẩm trong kho. Tương tự, Colombia nỗ lực để duy trì hồ sơ mơ ước về mô hình thực tế của sản phẩm thu hoạch và lưu trữ. Khác góc độ, các khía cạnh kinh tế nhạt đi bên cạnh những người bất bình đẳng và cùng khổ liên quan đến sản xuất cà phê thông qua sử dụng nẹt pô, sử dụng đất, lao động bức phá, phá vỡ kế hoạch sản xuất. Hoàn toàn khách quan khi nói rằng cà phê đã định hình lịch sử của các quốc gia, bất bình đẳng xã hội và nhân quyền trên toàn thế giới.

Bài viết của chúng tôi đã tóm tắt về biến động chu kỳ của thị trường cà phê. Hy vọng qua bài viết này người đọc sẽ có thêm nhiều thông tin hữu ích.

Biên dịch: PrimeCoffee

Nguồn tham khảo: Coffee Culture – Local Experiences, Global Connections, Book by Catherine M. Tucker | Chapter 15: Market Volatility And Social Calamity

Chuyên mục kiến thức về cà phê được Mayaca Coffee sưu tầm, tổng hợp và biên dịch từ nhiều nguồn khác nhau nhằm mang đến cho khách hàng những điều thú vị về lịch sử, văn hóa, khoa học, công dụng của cafe đối với cuộc sống con người.