Cà phê mà một trong những đóng góp quan trọng cho nền kinh tế của Việt Nam. Trong những năm qua ngành cà phê đã trải qua nhiều thách thức từ tự nhiên đến con người. Bài viết này, Mayaca sẽ giúp các bạn tìm hiều về ngành cà phê Việt Nam, hành trình ba thập kỷ.

Ngành cà phê  Việt Nam sau hơn một thế kỷ

Lịch sử cà phê Việt Nam bắt đầu bởi người Pháp từ năm 1857. Tính đến nay việc trồng cà phê đã cố thủ trong văn hóa Việt Nam hơn một thế kỷ.

Được tăng cường bởi sự hỗ trợ từ chính phủ, sản xuất cà phê Việt Nam đã tăng từ mức rất thấp. Từ 5900 ha cà phê và năm 1990. Đến nay diện tích cà phê của cả nước đã lên tới nửa triệu hecta. Với sản lượng hàng năm lên hơn 25 triệu bao vào năm 2010 và duy trì liên tục đến nay. Đưa Việt Nam trở thành nước sản xuất lớn thứ hai trên thế giới.

nganh-ca-phe -viet-nam-sau-hon-mot-the-ky

Hai loại cà phê chính (Robusta và Arabica) đều được đưa vào sản xuất. Trong khi Robusta chiếm 92,9% tổng diện tích trồng cà phê (và chiếm 97% tổng sản lượng). Thì các giống Arabica chỉ chịu trách nhiệm cho một vài phần trăm còn lại.

Tổng diện tích bao phủ bởi canh tác cà phê ước tính khoảng 600.000ha. Bao gồm các tỉnh trồng cà phê chính nằm ở Tây Nguyên. Điển hình là Đăk Lăk (190.000 ha), Lâm Đồng (162.000 ha), Đăk Nông (135.000 ha), Gia Lai (82.000 ha) ) và Kon Tum (13.500 ha).

Giống loài & Nguồn gốc

Trong tiếng việt cây cà phê vối tức Robusta (Coffea Canephora) đã có một chỗ đứng lâu đời. Phần lớn các giống Robusta hiện được trồng ở Việt Nam có nguồn gốc từ đảo Java của Indonesia.

nganh-ca-phe -viet-nam-sau-hon-mot-the-ky-1

Đầu thế kỷ 20, khi mà cả nước mới bước đầu thử nghiệm canh tác cả ba giống cà phê chè, vối và mít, giống cà phê chè. Thì Arabica Typica đã được trồng thử nghiệm tuy nhiên không phù hợp vì dễ mắc sâu bệnh. Cho đến những năm cuối thập niên 80 của thế kỷ 20, ở Việt Nam chủ yếu trồng Catimor. Đây là một giống lai chéo giữa Timor (là cây đột biến tự nhiên của Robusta) và Caturra (thuộc giống Arabica).

Trong hai mươi năm qua, các nhà nghiên cứu cà phê Việt Nam cũng đã lai tạo và ghép để đưa vào sản xuất nhiều giống Arabica mới . Chúng có tên bắt đầu bằng THA… hoặc TN… Những giống mới này có thể thích nghi với đất và khí hậu. Cho năng suất cao và tăng sức đề kháng với sâu bệnh.

Phân vùng và canh tác

Cà phê Việt Nam được trồng ở các vùng có độ cao từ 500 đến 1.200 mét so với mực nước biển. Do đó hương vị cà phê có chất vị ngọt ngào (sweet smell).

Chính phủ đã vạch ra một kế hoạch tổng thể rà soát và phân vùng lại các vùng cà phê trên toàn quốc. Thay thế cây cà phê cũ bằng giống mới. Hoặc tạo điều kiện chuyển đổi sang cây trồng khác ở các vùng không phù hợp để trồng cà phê.

nganh-ca-phe -viet-nam-sau-hon-mot-the-ky-2

Theo đó, Robusta tiếp tục phát triển ở bốn tỉnh thuộc Tây Nguyên. Đó là Đăk Lăk, Lâm Đồng, Đăk Nông và Gia Lai. Có tổng diện tích 530.000 ha, còn lại là khoảng 70.000 ha ở các tỉnh khác. Cây Arabica đã được định hướng mở rộng ở Sơn La (Tây Bắc), Nghệ An, Quảng Trị (miền Trung), Lâm Đồng (Tây Nguyên) và một số khu vực khác tại miền trung.

Hệ thống sản xuất

Đối với canh tác cà phê Việt Nam, có những trang trại chuyên biệt. Chỉ độc canh cây cà phê và trang trại hợp canh – với nhiều hơn một sản phẩm nông nghiệp.

Mật độ cho cà phê Arabica phổ biến trong môi trường canh tác nước ta thay đổi từ 2.660 đến 6.660 cây mỗi ha. Tùy thuộc vào giống, tính chất đất và độ dốc của những ngọn đồi đang phát triển. Đối với cà phê Robusta, mật độ khoảng 1.330 cây mỗi ha.

he-thong-san-xuat

Việc trồng trọt thường bắt đầu trong mùa mưa. Mặc dù có thể chấm dứt vào cuối mùa mưa, nhưng vẫn cần cung cấp đủ nước và đảm bảo che nắng, chắn gió sau đó. Sau một thời gian trồng thử nghiệm, Bộ NN & PTNT đã giới thiệu một số kỹ thuật trồng xen với các cây trồng khác. Điển hình như hồ tiêu, bơ, sầu riêng và macadamia trong vườn cà phê.

Bên cạnh việc mở rộng diện tích canh tác, về thực hành canh tác cà phê để phát triển bền vững. Nhiều nông dân trồng cà phê Việt Nam đã và đang áp dụng công nghệ sản xuất nông nghiệp tiên tiến. Để đạt được các chứng nhận phổ biến. Như 4C (Common Code for the Coffee Community); VietGAP (Thực hành nông nghiệp tốt của Việt Nam); UTZ (Certified Certified); và RFA (Liên minh rừng nhiệt đới). Tính đến cuối năm 2017, hơn 200.000ha, chiếm hơn 30% tổng diện tích trồng cà phê của Việt Nam. Được chứng nhận bởi các sáng kiến phát triển bền vững.

Thu hoạch và kỹ thuật chế biến

Mùa cà phê bắt đầu vào tháng 10, đánh dấu sự kết thúc của mùa mưa và bắt đầu mùa khô ở miền Nam nước ta. Hầu hết các khu vực canh tác cà phê thường thu hái bằng cách tước cả quả chín lẫn quả xanh từ cây.

he-thong-san-xuat-1

Kỹ thuật chế biến phổ biến nhất tại nước ta vẫn là phương pháp phơi khô tự nhiên sau thu hoạch. Theo phương pháp này, cà phê được sấy khô dưới ánh sáng mặt trời hoặc trong máy sấy cơ học. Hiện tại, gần 80% chế biến sau thu hoạch là bằng ánh sáng mặt trời.

Tuy nhiên, cà phê ở khu vực Tây Nguyên hiện đang ngày càng sử dụng máy móc để sấy khô quả cà phê. Thời gian sấy là khoảng 12 đến 16 giờ mỗi mẻ và độ ẩm giảm 10% -12%. Nguyên liệu chính được sử dụng làm nhiên liệu cho máy sấy là vỏ cà phê khô hoặc than.

Hiện trạng và triển vọng của ngành cà phê Việt Nam

Trong nhiều thập kỷ qua, sản xuất cà phê Việt Nam đã phát triển như một ngành công nghiệp định hướng xuất khẩu. Với vị thế là nhà sản xuất và xuất khẩu cà phê lớn thứ hai thế giới. Tuy nhiên, cà phê Việt Nam hiện đang phải đối mặt với không ích vấn đề trong đó những thách thức khách quan lẫn chủ quan:

  • Biến đổi khí hậu với trình trạng thời tiết cực đoan. Đặt các vùng trồng cà phê vào vùng nguy hiểm. Theo Trung tâm Nông nghiệp Nhiệt đới Quốc tế (CIAT), nhiệt độ tăng và lượng mưa thay đổi có thể khiến Việt Nam mất 50% diện tích sản xuất cà phê Robusta hiện tại vào năm 2050.

hien-trang-va-trien-vong-cua-nganh-ca-phe-viet-nam

  • Khoảng 50% tổng số cây cà phê được trồng ở Việt Nam là từ 10 đến 15 tuổi. Đây là nhóm cây cho năng suất cao nhất. Trong những năm tới, sản xuất cà phê Việt Nam sẽ chủ yếu dựa vào nhóm này. Đối với phần còn lại, gần 30% cây là từ 15 đến 20 tuổi và khoảng 20% trên 20 tuổi – không thể đảm bảo năng suất.

Một số vấn đề chủ quan

Diện tích cây cà phê mới trồng đã tăng đáng kể trong thời gian gần đây. Nhưng hầu hết không nằm trong khu vực quy hoạch. Chủ yếu nằm ở khu vực không phù hợp, với đất nông, dốc cao, thiếu nước tưới, v.v. Do đó, mặc dù diện tích trồng mới đã tăng lên. Nhưng việc đạt được hiệu quả kinh tế cao là khó khăn. Vì năng suất thấp và chi phí sản xuất cao

Các biện pháp canh tác thâm canh được sử dụng trong quá khứ đã sử dụng quá nhiều đầu vào. Như  phân bón, tưới tiêu,… để đạt được năng suất tối đa. Cây cà phê không chỉ nhanh chóng cạn kiệt và mất khả năng sản xuất. Mà cách làm  như vậy còn dẫn đến đất bị ô nhiễm nghiêm trọng. Dẫn đến nhiều bệnh và sâu bệnh, đặc biệt là nấm và tuyến trùng rễ.

hien-trang-va-trien-vong-cua-nganh-ca-phe-viet-nam-1

Hình thức sản xuất, quy mô nhỏ, phân tán và tính độc lập của các hộ nông dân. Đã dẫn đến một sản xuất chất lượng thấp và không ổn định. Sự khác biệt của đầu tư, thu hoạch, và chế biến giữa các nhà sản xuất đã ảnh hưởng đến chất lượng của toàn bộ ngành cà phê Việt Nam.

Mặc dù cà phê là một loại cây cần nhiều nước. Nhưng tưới truyền thống nhưng lỗi thời vẫn là phương pháp chính được sử dụng ở hầu hết các vùng trồng cà phê, gây mất nước nghiêm trọng. Ở nhiều địa phương, việc khoan giếng để tưới tiêu. Đã dẫn đến việc phá hủy tài nguyên nước ngầm và ô nhiễm đất, gây lãng phí và không hiệu quả.

Triển vọng và hoạch định của ngành cà phê ở Việt Nam

Để đối phó với những thách thức, các nhà hoạch định chính sách của Việt Nam đã đưa ra những cải cách dài hạn của ngành công nghiệp đất nước. Năm 2014, Chính phủ đã vạch ra kế hoạch phát triển cà phê. Chính sách phát triển bền vững đến năm 2020 và Tầm nhìn đến năm 2030. Một chương trình nghị sự tổng thể nhằm quản lý bền vững các nguồn lực kinh tế và môi trường cho ngành cà phê. Tăng thu nhập xuất khẩu và đảm bảo sản xuất ổn định.

hien-trang-va-trien-vong-cua-nganh-ca-phe-viet-nam-2

Kế hoạch này bao gồm các mục tiêu kinh tế cụ thể cho hiệu suất của ngành. Như tăng cường xử lý chuyên sâu cho giá trị gia tăng. Để đạt doanh thu xuất khẩu 6 tỷ USD trong thập kỷ tới. Đồng thời đặt ra các mục tiêu môi trường cụ thể. Bao gồm giới hạn canh tác cà phê trên toàn quốc ở mức 600.000 ha. Thay thế cây cà phê năng suất thấp cũ bằng các giống mới cho năng suất cao hơn và có khả năng kháng sâu bệnh tốt hơn. Phân vùng lại cà phê và tiết kiệm nước phương pháp tưới. Cũng như thiết lập các tiêu chuẩn an toàn và môi trường mới cho phân bón và thuốc trừ sâu.

Bài viết này đã giới thiệu về hành trình ngành cà phê Việt Nam trong ba thập kỷ qua. Hy vọng qua bài viết này, người đọc sẽ có thêm nhiều thông tin hữu ích.

Biên dịch: PrimeCoffee

Chuyên mục kiến thức về cà phê được Mayaca Coffee sưu tầm, tổng hợp và biên dịch từ nhiều nguồn khác nhau nhằm mang đến cho khách hàng những điều thú vị về lịch sử, văn hóa, khoa học, công dụng của cafe đối với cuộc sống con người.